Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014
Đặc sản thời trận mạc
ĐÓ LÀ VÀO NHỮNG NĂM 1970 SAU MẬU THÂN, khi các binh đoàn chủ lực bị đẩy hết lên vùng biên giới Campuchia, chỉ còn lại ở địa bàn một vài đơn vị đặc công lẻ khuất. Đói và khát. Địch bao vây vòng trong vòng ngoài muốn xóa trắng đối phương. Có khi hàng tháng không có một hạt gạo vào bụng chứ đừng nói đến ngọn rau, miếng thịt. Nhất là rau, thèm đến cồn cào tâm địa. Thức ăn chính yếu là củ chụp củ mài. Càng nuốt vào càng nạo ruột. Lần ấy, vào những ngày giáp Tết - mà khổ, đời lính mù mịt đánh đấm còn đầu óc nào để nhận biết Tết hay không Tết nếu không có chiếc đài đeo bên hông - đơn vị hành binh qua một cái rẫy bị bom napal đánh cháy đen của đồng bào người Thượng, một cậu kêu lên như bắt được vàng: “Cà! Cà các đồng chí ơi!”. Quờ xúm lại. Trên thân một cây cà tả tơi có gần chục trái to bằng hòn bi già queo quắt, màu đen tím còn sót lại. Thế là nhanh tay ngắt, cho vào miệng nhai ngau ngáu cả trái. Nhai nhưng đắng quá, không nuốt được, lại cố nuốt, chung cục cũng nhọc nhằn trôi qua được cái cần cổ khô khốc. Nhìn nhau ứa nước mắt… Chao ôi, hồi còn ở nhà, cũng trái cà này nhưng non búng, nhai giòn tan cơ, mùa hè chan với nước rau muống luộc có vắt chanh thì có thể đánh cả chục bát cơm. Vẫn thèm rau đến rã rời. Đêm nào ngủ cũng mơ thấy được ăn rau. Lại một tối hành quân ven sông Bé, dưới ánh đèn bấm thoi thóp chợt hiện lên một vạt rau dền gai, chả ai bảo ai vội ngồi thụp xuống thi nhau hái, cho vào miệng. Một vệt đèn bấm loáng qua, thấy cái miệng nào cũng nhòe đỏ. Màu của chiến tranh! NHƯNG THIẾU RAU VẪN KHÔNG nhằm nhè GÌ SO VỚI THIẾU MUỐI. Thiếu muối thì thuộc cấp cứ bủn rủn. Thiếu đến nỗi lệnh trên rót xuống: Ưu tiên ngày Tết, mỗi đêm điều nghiên, để bò rào không run, cấp đại đội được tiêu chuẩn một hạt, còn lại chỉ nửa hạt. Trời, hạt muối mặn lúc ấy cho vào miệng thấy ngọt như nhân sâm nhưng chỉ được ngậm từ từ, ngậm nhè nhẹ, ngậm sao cho đủ hết một đêm bò rào qua hàng chục lưới dây kẽm gai sắc cạnh, nhọn hoắt đầy mìn trái. Ngậm nhanh quá, khoái khẩu quá, đến những hàng rào sau còn có gì để mà lấy lại được sự tỉnh táo! Ở cái Tết bò rào ấy, hạt muối thường nhật bỗng thành đại tiệc mùa Xuân mà người lính cảm được cả mùi dưa hành, bánh chưng, nem mọc, chả giò trong đó. Rau tàu bay Song vẫn chưa kinh khủng bằng một cảnh huống oái oăm thế này. Hôm đó, đơn vị mai phục bắt được một xe mỡ của quân tiếp vụ Mỹ. Cả trăm thùng mỡ tròn căng, óc ách. Mọi người bảo nhau xuống suối ném khẽ một trái thủ pháo, thế là cá nổi trắng suối, con nào con ấy béo mẫm, giãy đành đạch. Chỉ móc ruột, đánh vảy gọi là rồi ném sờ soạng vào chảo mỡ. Cá rán thơm váng một góc rừng, vàng rộm, bung nở. Vội hít hà bóc gỡ cho vào mồm nhai ngốn ngấu. Nhưng chao ôi, chỉ nhai được mấy lát là lại nhè ra, thả xuống, méo miệng, thẫn thờ nhìn nhau. Cá không có muối chấm hững hờ làm sao mà nuốt được! Lần này thì khóc, khóc ra nước mắt hẳn hoi. Khóc cả cho sự nhớ tiếc bóng gió rằng giá như ở quê thì số cá này có thể khao đủ cả làng trong một độ Xuân về hay vào ngày mừng lúa mới. RỒI CUỘC SỐNG CŨNG MỞ RA THEO ĐÀ THẮNG CỦA NHỮNG TRẬN ĐÁNH. Chưa có rau vườn nhưng cũng đã có lá bép, có ngọn rau tàu bay. Lá bép thường nằm sâu trong rừng, có bận vừa cầm được nắm lá chưa kịp cho vào miệng thì đã ngã dụi xuống, ngất lịm vì đói. Tỉnh dậy, lại tiếp tục đi tìm nữa. Còn rau máy bay lại mọc ở bìa hố bom, vệt đất mới, phải chăng nên mà nó có tên gọi mang đầy tính không kích như thế! Chỉ cần vò qua rau với nhúm muối trong mũ sắt vài giây là có thể ăn được, ngon hơn ngàn lần dưa muối. Người ta hay nói “Vui như Tết”. Thì đó, đang háo, chỉ cần làm một bụng rau tàu bay mát rượi thôi thì chả có cái Tết nào sánh tày. Kỳ lạ, về sau này, một lần thử tìm lại, ăn lại hai thứ lá đó nhưng chịu! Cứ lờ lợ, tanh tanh không nuốt nổi. Té ra cái bụng, cái lưỡi con người cũng kỳ lạ thật. Vào tình cảnh này là cao lương mỹ vị nhưng lúc khác chỉ còn là mùi vị đắng chát một kỷ niệm không hơn. Năm tháng qua đi, những món ăn thời chiến trận ấy đã lùi vào dĩ vãng, bạn bè đồng đội đã rơi rụng đi nhiều nhưng mỗi khi vào độ Xuân về, động lòng nhớ đến và lại bâng khuâng, ngậm ngùi. Chiến tranh là chết chóc, là gian khổ tột đỉnh. Người lính một thời đã không ngã, đã dựa vào nhau, đã hà hơi tiếp sức cho nhau để vẽ nên bức tranh chiến trận huy hoàng trong lịch sử dân tộc mà trong đó không thể không kể đến sự đóng góp âm thầm nhưng vô cùng cần yếu của những ngọn rau rừng, những nần củ ăn sâu trong lòng đất mẹ, những con thú đi hoang tội tình qua khoảng trống hố bom...
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét